Bộ Tài chính trả lời về hoàn thuế với xi măng xuất khẩu

Thứ Năm 13 Tháng Bảy - 2017

Theo phản ánh của Công ty cổ phần Xuất Nhập khẩu quốc tế Nam Phong, việc tính thuế xuất khẩu 5% theo Nghị định 122/2016/NĐ-CP, Nghị định 100/2016/NĐ-CP và Thông tư 130/2016/TT-BTC như hiện nay sẽ đẩy giá thành xi măng lên rất cao, dẫn đến khó tiêu thụ được mặt hàng này.

Qua Hệ thống tiếp nhận, trả lời kiến nghị của doanh nghiệp, Công ty cổ phần Xuất Nhập khẩu quốc tế Nam Phong đề nghị cơ quan có thẩm quyền xem xét, tạo điều kiện về việc hoàn thuế giá trị gia tăng (GTGT) đối với sản phẩm xi măng xuất khẩu.

Về vấn đề này, Bộ Tài chính có ý kiến như sau:

Tại Khoản 1 Điều 1 Luật số 106/2016/QH13 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế GTGT, Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt và Luật Quản lý thuế quy định sản phẩm xuất khẩu là tài nguyên, khoáng sản khai thác chưa chế biến thành sản phẩm khác; sản phẩm xuất khẩu là hàng hóa được chế biến từ tài nguyên, khoáng sản có tổng giá trị tài nguyên, khoảng sản cộng với chi phí năng lượng chiếm từ 51% giá thành sản phẩm trở lên thì thuộc đối tượng không chịu thuế GTGT.

Tại Khoản 4 Điều 1 Nghị định số 100/2016/NĐ-CP ngày 1/7/2016 của Chính phủ quy định sản phẩm xuất khẩu là tài nguyên, khoáng sản khai thác chưa chế biến thành sản phẩm khác hoặc đã chế biến thành sản phẩm khác nhưng tổng trị giá tài nguyên, khoáng sản cộng với chi phí năng lượng chiếm từ 51% giá thành sản xuất sản phẩm trở lên được chế biến từ tài nguyên, khoáng sản; sản phẩm xuất khẩu là hàng hóa được chế biến từ tài nguyên, khoáng sản có tổng giá trị tài nguyên, khoáng sản cộng với chi phí năng lượng chiếm từ 51% giá thành sản xuất sản phẩm trở lên.

Tài nguyên, khoáng sản quy định tại khoản này là tài nguyên, khoáng sản có nguồn gốc trong nước gồm: Khoáng sản kim loại; khoáng sản không kim loại; dầu thô; khí thiên nhiên; khí than.

Trị giá tài nguyên, khoáng sản là giá vốn tài nguyên, khoáng sản đưa vào chế biến; đối với tài nguyên, khoáng sản trực tiếp khai thác là chi phí trực tiếp, gián tiếp khai thác ra tài nguyên, khoáng sản; đối với tài nguyên, khoáng sản mua để chế biến là giá thực tế mua cộng chi phí đưa tài nguyên, khoáng sản vào chế biến.

Chi phí năng lượng gồm: nhiên liệu, điện năng, nhiệt năng.

Việc xác định giá trị tài nguyên, khoáng sản và chi phí năng lượng căn cứ vào quyết toán năm trước; trường hợp doanh nghiệp mới thành lập chưa có báo cáo quyết toán năm trước thì căn cứ vào phương án đầu tư.

Theo Điểm c Khoản 1 Điều 1 Thông tư số 130/2016/TT-BTC ngày 12/8/2016 của Bộ Tài chính hướng dẫn Nghị định số 100/2016/NĐ-CP ngày 1/7/2016 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế GTGT, Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt và Luật Quản lý thuế và sửa đổi một số điều tại các Thông tư về thuế cơ bản hướng dẫn như nội dung quy định tại Nghị định 100/2016/NĐ-CP và có bổ sung hướng dẫn chi tiết.

Việc xác định tỷ trọng trị giá tài nguyên, khoáng sản và chi phí năng lượng trên giá thành được thực hiện theo công thức:

Tỷ trọng giá trị tài nguyên, khoáng sản và chi phí năng lượng trên giá thành sản xuất sản phẩm =(Trị giá tài nguyên, khoáng sản + chi phí năng lượng)/Tổng giá thành sản xuất sản phẩm x 100%

Trị giá tài nguyên, khoáng sản và chi phí năng lượng được xác định theo giá trị ghi sổ kế toán phù hợp với bảng tổng hợp tính giá thành sản phẩm.

Giá thành sản xuất sản phẩm bao gồm: Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí công nhân trực tiếp và chi phí sản xuất chung. Các chi phí gián tiếp như chi phí bán hàng, chi phí quản lý, chi phí tài chính và chi phí khác không được tính vào giá thành sản xuất sản phẩm.

Doanh nghiệp sản xuất sản phẩm là tài nguyên, khoáng sản (bao gồm cả trực tiếp khai thác hoặc mua vào để chế biến) có tổng trị giá tài nguyên, khoáng sản cộng với chi phí năng lượng chiếm từ 51% giá thành sản xuất sản phẩm trở lên được chế biến từ tài nguyên, khoáng sản khi xuất khẩu thì thuộc đối tượng không chịu thuế GTGT.

Trường hợp doanh nghiệp không xuất khẩu mà bán cho doanh nghiệp khác để xuất khẩu thì doanh nghiệp mua hàng hóa này để xuất khẩu phải thực hiện kê khai thuế GTGT như sản phẩm cùng loại do doanh nghiệp sản xuất trực tiếp xuất khẩu và phải chịu thuế xuất khẩu theo quy định.

Tại Điều 30 Luật Quản lý thuế số 78/2006/QH11 quy định nguyên tắc khai thuế và tính thuế như sau:

1. Người nộp thuế phải khai chính xác, trung thực, đầy đủ các nội dung trong tờ khai thuế theo mẫu do Bộ Tài chính quy định và nộp đủ các loại chứng từ, tài liệu quy định trong hồ sơ khai thuế với cơ quan quản lý thuế.

2. Người nộp thuế tự tính số thuế phải nộp, trừ trường hợp việc tính thuế do cơ quan quản lý thuế thực hiện theo quy định của Chính phủ.

Căn cứ vào hướng dẫn nêu trên, doanh nghiệp thực hiện khai nộp, tự nộp, tự xác định số thuế GTGT được khấu trừ, không được khấu trừ của sản phẩm xuất khẩu theo nguyên tắc: Trường hợp Công ty xuất khẩu sản phẩm xi măng được sản xuất từ tài nguyên, khoáng sản có trong nước thì phải tính giá trị tài nguyên, khoáng sản cộng chi phí năng lượng để xác định thuế GTGT cho phù hợp.

Trường hợp Công ty mua sản phẩm xi măng được sản xuất từ tài nguyên, khoáng sản có nguồn gốc trong nước để xuất khẩu thì phải tính trị giá tài nguyên, khoáng sản cộng chi phí năng lượng như sản phẩm cùng loại do doanh nghiệp sản xuất trực tiếp xuất khẩu.

Về việc xác định giá trị tài nguyên, khoáng sản cộng chi phí năng lượng, Bộ Tài chính đang trình các cấp có thẩm quyền xem xét, bổ sung hướng dẫn cho phù hợp với thực tế và tạo thuận lợi cho doanh nghiệp.